0915.916.915

Đến năm 2020, cần hơn 952.000 tỷ đồng để hoàn thiện hạ tầng giao thông

Sáng 4/6, Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể mở màn phiên chất vấn, trả lời về biện pháp đã đi vào vận hành kết cấu hạ tầng giao thông và bảo đảm trật tự an toàn giao thông trong cả nước, nhất là ở 1 số thành thị lớn. Người đứng đầu Bộ GTVT cũng nói về biện pháp xử lý các vấn đề tồn ở đối có 1 số dự án giao thông BOT.

can hon 952 ngan ty dong de hoan thien ket cau ha tang giao thong den 2020 hinh 1
Bộ trưởng GTVT Nguyễn Văn Thể ở phiên chất vấn sáng 4/6

Mức hữu dụng và chất lượng cơ sở hạ tầng giao thông của Việt Nam tăng 36 bậc trong 5 năm

Báo cáo của Bộ GTVT gửi đến 1 số đại biểu Quốc hội cho biết, triển khai thực hiện chủ trương, định hướng của Đảng, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông thời gian qua đã được quan tâm đầu tư. Nhiều công trình giao thông lớn, tân tiến như: 1 số tuyến các con phố bộ xa lộ; mở rộng quốc lộ 1 và các con phố Hồ Chí Minh đoạn qua khu vực Tây Nguyên; 1 số cảng biển: Quảng Ninh (khu bến Cái Lân), Hải Phòng (khu bến Lạch Huyện), cảng Đà Nẵng (khu bến Tiên Sa), thành thị Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu (khu bến Cái Mép – Thị Vải), Cần thơ…, Luồng cho tàu có trọng tải lớn vào sông Hậu; 1 số cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ, Cam Ranh… đã và đang từng bước đầu tư thi công, đạt nguyên tắc khu vực và quốc tế, góp phần tạo bề ngoài mới cho đất nước, tạo lập được sự kết nối giữa 1 số vùng miền trong cả nước và có quốc tế. Giao thông thành thị từng bước được cải tạo, nâng cấp và mở rộng, đặc trưng ở 1 số thành thị lớn.

Nhiều công trình hạ tầng giao thông được tập trung đầu tư nâng cấp, trong đây có 1 số dự án trọng điểm ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh như: cầu Thanh Trì, cầu Vĩnh Tuy, cầu Nhật Tân, cầu Vĩnh Thịnh, các con phố vành đai III Hà Nội, hầm Kim Liên, đại lộ Thăng Long, đại lộ Đông Tây, hầm Thủ Thiêm…; 1 số dự án các con phố sắt thành thị như thành thị Hà Nội – Hà Đông, Nhổn – Ga Hà Nội, Bến Thành – Suối Tiên… So có năm 2005, kết cấu hạ tầng các con phố bộ (chỉ tính tới cấp tỉnh) tăng từ 39.646 km (dao động 16.761 km quốc lộ; 22.885 km các con phố tỉnh) lên 64.504 km (dao động 831 km các con phố xa lộ, 23.862 km quốc lộ; 10.900 km các con phố thành thị; 28.911 km các con phố tỉnh), kết cấu hạ tầng các con phố sắt tăng từ 2.600 km khai thác lên 3.160 km, kết cấu hạ tầng các con phố thủy nội địa tăng từ 15.436 km quản lý khai thác lên 17.232 km, công suất khai thác hệ thống cảng biển tăng từ dao động 32,5 triệu tấn hàng/năm lên dao động từ 500 đến 550 triệu tấn hàng/năm, công suất khai thác hệ thống cảng hàng không tăng từ dao động 18 triệu khách/năm lên 77,75 triệu hành khách/năm.

Báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) cho thấy, mức hữu dụng và chất lượng cơ sở hạ tầng giao thông của Việt Nam năm 2015 đứng ở địa điểm 67, tăng 36 bậc trong 5 năm (năm 2010 ở địa điểm thứ 103).

can hon 952 ngan ty dong de hoan thien ket cau ha tang giao thong den 2020 hinh 2
Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể trả lời chất vấn của ĐBQH

Bên cạnh đây, vận hành vận tải tăng trưởng bình quân hàng năm tăng từ 8-9% và từng bước được quản lý nghiêm ngặt trên toàn bộ 1 số lĩnh vực, căn bản cung cấp nhu cầu vận tải trong nước và quốc tế; hạn chế hiện trạng ùn tắc hành khách, hàng hóa ở cảng hàng không, ga các con phố sắt, bến xe, bến cảng vào mùa vận tải cao điểm; đồng thời chất lượng phục vụ, dịch vụ vận tải cũng không ngừng được đổi mới, nâng cao có nhiều thành phần kinh tế tham dự, chắc chắn phân khúc vận tải tranh giành lành mạnh; giá cước vận tải căn bản đã được kiểm soát, bảo đảm phục vụ tốt hơn nhu cầu di chuyển của nhân dân, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội qua đây đã nâng cao khả năng tranh giành của nền kinh tế.

Hệ thống hạ tầng giao thông vẫn chưa cung cấp đề nghị phát triển

Báo cáo của Bộ GTVT cũng cho biết, mặc dù phát triển mạnh trong 5 năm qua nhưng tóm lại đến nay hệ thống hạ tầng giao thông nước ta vẫn chưa cung cấp đề nghị phát triển để tiến tới mục tiêu công nghiệp hóa, tân tiến hóa đất nước. Trong đây, còn mất cân đối trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, hệ thống các con phố bộ xa lộ mới bước đầu hình thành; hệ thống các con phố sắt đã lạc hậu, chưa đầu tư được các con phố sắt tốc độ cao; dịch vụ hỗ trợ sau cảng biển (khu hậu cần cảng) chưa được đầu tư tương xứng; 1 số cảng hàng không đã xảy ra quá tải; kết nối giữa 1 số lĩnh vực giao thông chưa cung cấp, gây sức ép cao trong vận tải hàng hóa lên hệ thống hạ tầng giao thông các con phố bộ…

Do gặp khó về giá thành, hệ thống hạ tầng giao thông đã đi vào vận hành cũng chưa được duy tu, bảo trì kịp thời làm hạn chế năng lực khai thác. Những bất cập trên đã và đang làm giảm địa vị đi trước mở các con phố của ngành giao thông vận tải trong sự nghiệp công nghiệp hóa, tân tiến hóa đất nước.

Phấn đấu đến năm 2020 cả nước có trên 2.000 km các con phố xa lộ

Về định hướng phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, nhằm cung cấp mục tiêu đến năm 2020, hệ thống giao thông vận tải nước ta cần căn bản cung cấp nhu cầu vận tải của xã hội, chắc chắn chất lượng càng ngày càng được nâng cao, giá thành hợp lý; tiếp tục kéo giảm tai nạn giao thông và hạn chế ô nhiễm môi trường, góp phần nâng cao năng lực tranh giành quốc gia, Báo cáo của Bộ GTVT cho biết, nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải trong GĐ 2016 – 2020 được xác định như sau:

– Về các con phố bộ: Ưu tiên đầu tư thi công 1 số công trình trọng điểm gồm 1 số tuyến xa lộ, quốc lộ trọng yếu, 1 số tuyến có nhu cầu vận tải lớn, 1 số tuyến kết nối. Phấn đấu đến năm 2020 cả nước có trên 2.000 km các con phố xa lộ, trong đây ưu tiên đầu tư xa lộ Bắc – Nam đoạn thành thị Hà Nội – thành thị Hồ Chí Minh.

– Về các con phố sắt: Tập trung ưu tiên nâng cấp, tân tiến hóa tuyến các con phố sắt Bắc – Nam hiện có. Nghiên cứu 1 số phương án khả thi các con phố sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam để có kế hoạch đầu tư thi công thích hợp.

– Về các con phố thủy nội địa: Tập trung cải tạo, nâng cấp 1 số tuyến các con phố thủy nội địa chính; ưu tiên đã đi vào vận hành nâng cấp 1 số tuyến kết nối vùng đồng bằng Sông Cửu Long có thành thị Hồ Chí Minh; 1 số tuyến sông Tiền, sông Hậu, sông Hồng, sông Thái Bình; tăng chiều dài 1 số đoạn tuyến sông được khai thác. Nâng cấp và thi công mới 1 số cảng thủy nội địa chính, bến hàng hóa và hành khách ở đồng bằng Sông Cửu Long, đồng bằng Sông Hồng để phục vụ nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách.

– Về hàng hải: Tiếp tục đầu tư phát triển hệ thống cảng biển quốc gia, 1 số cảng cửa ngõ quốc tế ở 1 số vùng kinh tế trọng điểm có khả năng tiếp nhận 1 số tàu container thế hệ mới. Ưu tiên đầu tư đồng bộ, tân tiến 1 số khu bến cảng Lạch Huyện và khu bến cảng Cái Mép – Thị Vải. Đầu tư chắc chắn sự kết nối liên hoàn giữa cảng biển có mạng giao thông quốc gia và đầu mối logistics ở khu vực. Xây dựng 1 số cảng cạn và 1 số kết cấu hạ tầng khác hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics.

– Về hàng không: Triển khai đầu tư thi công Cảng hàng không quốc tế Long Thành; khai thác hiệu quả 1 số cảng hàng không, sân bay hiện có, trong đây ưu tiên đầu tư nâng cấp đồng bộ, tân tiến 1 số cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Cần Thơ và Cam Ranh.

– Phối hợp có 1 số tỉnh, thành thị đầu tư phát triển hạ tầng giao thông thành thị:

+ Phát triển hợp lý hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông thành thị và vận tải công cộng; phấn đấu quỹ đất dành cho giao thông thành thị từ 16-26% (GĐ này mới đạt dao động 8-9% có thành thị Hà Nội và thành thị Hồ Chí Minh); tập trung phát triển 1 số tuyến vận tải công cộng khối lượng lớn.

+ Tập trung đầu tư nâng cấp, mở rộng và thi công mới 1 số tuyến các con phố chính ra, vào thành thị, 1 số trục giao thông hướng tâm, 1 số nút giao lập thể ở 1 số giao lộ lớn, 1 số tuyến tránh thành thị, 1 số các con phố vành đai thành thị (Vành đai 4, 5 Hà Nội; vành đai 3, 4 thành thị Hồ Chí Minh). Đẩy nhanh công đoạn thực hiện 1 số dự án các con phố sắt nội, ngoại ô ở Thủ đô Hà Nội và thành thị Hồ Chí Minh.

+ Tổ chức quản lý giao thông thành thị 1 1 sốh khoa học, sử dụng công nghệ và thiết bị tân tiến, như: hệ thống camera, hệ thống giao thông thông minh (ITS). Nâng cấp trọng điểm điều khiển giao thông của Thủ đô Hà Nội, thành thị Hồ Chí Minh và đầu tư 1 số trọng điểm tương tự ở 1 số thành thị khác khi có nhu cầu.

can hon 952 ngan ty dong de hoan thien ket cau ha tang giao thong den 2020 hinh 3

– Phối hợp đầu tư phát triển hạ tầng giao thông địa phương:

+ Tập trung đưa hệ thống tuyến các con phố tỉnh vào cấp kỹ thuật, ưu tiên 1 số tuyến có tính kết nối và có nhu cầu vận tải cao.

+ Duy trì, củng cố và nâng cấp mạng lưới giao thông nông thôn hiện có theo đúng nguyên tắc kỹ thuật các con phố giao thông nông thôn, cung cấp đề nghị công nghiệp hóa, tân tiến hóa nông nghiệp, nông thôn. Tỷ lệ mặt các con phố cứng như rải nhựa hoặc bê tông xi măng đạt 100% đối có tuyến các con phố huyện, 70% đối có tuyến các con phố xã và 50% đối có tuyến các con phố thôn, xóm.

+ Hoàn thành việc mở các con phố mới đến trọng điểm 1 số xã, cụm xã chưa có các con phố, 1 số nông, lâm trường, 1 số điểm công nghiệp, coi trọng phát triển giao thông các con phố thủy vùng đồng bằng Sông Cửu Long.

Nhu cầu vốn đầu tư trong GĐ 2016 – 2020 cần dao động 952.000 tỷ đồng

Báo cáo của Bộ GTVT cũng cho biết, để chắc chắn đã đi vào vận hành 1 số nhiệm vụ trên, ngành giao thông vận tải xác định nhu cầu vốn đầu tư trong GĐ 2016 – 2020 cần dao động 952.731 tỷ đồng; trong đây: lĩnh vực các con phố bộ cần 632.587 tỷ đồng (tương đương 66,4% nhu cầu), lĩnh vực các con phố sắt cần 135.281 tỷ đồng (tương đương 14,2% nhu cầu), lĩnh vực các con phố thủy nội địa cần 14.897 tỷ đồng (tương đương 1,6% nhu cầu), lĩnh vực hàng không cần 193.309 tỷ đồng (tương đương 9,8% nhu cầu), lĩnh vực hàng hải cần 64.771 tỷ đồng (tương đương 6,8% nhu cầu), vốn cho công tác dự kiến đầu tư và đầu tư 1 số khối ngoài giao thông cần 11.886 tỷ đồng (tương đương 1,2% nhu cầu).

Tuy nhiên, báo cáo của Bộ GTVT cho thấy thực ở, GĐ này nguồn vốn ngân sách nhà nước còn rất gặp khó, khả năng kêu gọi huy động thêm vốn ODA cũng hạn chế do vướng trần nợ công và Việt Nam được coi như đã tốt nghiệp ODA ưu đãi, việc huy động vốn đầu tư ngoài ngân sách cũng đã chững lại do cần đã đi vào vận hành thêm thể chế, chính sách bán hàng. Theo số kế hoạch vốn ngân sách nhà nước được giao trong GĐ 2016 – 2020, Bộ Giao thông vận tải mới chỉ được cân đối, bố trí được dao động 292.416 tỷ đồng (Kế hoạch vốn ngân sách nhà nước GĐ 2016 – 2020 đã được giao và dự kiến sẽ được giao 210.700 tỷ đồng, nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước dự kiến huy động được dao động 81.716 tỷ đồng), cung cấp 30,6% nhu cầu đầu tư. Đây sẽ là các gặp khó rất lớn trong việc thực hiện 1 số mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đã đề ra.

Hoàn thành mở rộng Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất nhằm giảm hiện trạng ùn tắc

Căn cứ chỉ đạo ở 1 số Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, trên cơ sở nguồn vốn đầu tư công trung hạn đã được bố trí, Bộ Giao thông vận tải xác định 1 số nhiệm vụ, công trình, dự án sau sẽ là các trọng tâm đột phá kết cấu hạ tầng của Ngành trong GĐ 2016 – 2020:

– Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh công đoạn 1 số công trình trọng điểm, như: các con phố bộ xa lộ Đà Nẵng – Quảng Ngãi, Bến Lức – Long Thành, Pháp Vân – Cầu Giẽ GĐ 2, Trung Lương – Mỹ Thuận, Hòa Lạc – Hòa Bình, các con phố Hồ Chí Minh GĐ 2; các con phố sắt thành thị Cát Linh – Hà Đông và tuyến số 1 Hà Nội; cảng Lạch Huyện…

– Triển khai thực hiện 1 số Dự án đầu tư thi công 1 số đoạn các con phố bộ xa lộ trên tuyến Bắc – Nam phía Đông; 1 số dự án các con phố sắt quan trọng và 1 số dự án các con phố bộ quan trọng, cấp bách triển khai từ nguồn dự phòng kế hoạch trung hạn theo Nghị quyết số 52/2017/QH14 ngày 22/11/2017 của Quốc hội.

– Hoàn thành mở rộng Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất nhằm giảm hiện trạng ùn tắc ở Cảng hàng không này.

– Sớm đã đi vào vận hành báo cáo tìm hiểu khả thi, dự kiến đầy đủ điều kiện để bắt đầu làm dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành, dự kiến vào năm 2020.

– Tập trung đã đi vào vận hành báo cáo tìm hiểu tiền khả thi dự án các con phố sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam để báo cáo Quốc hội tham khảo thông qua chủ trương đầu tư trong năm 2019.

– Bên cạnh đây, Bộ Giao thông vận tải sẽ tiếp tục phối hợp nghiêm ngặt có 1 số thành thị lớn, đặc trưng có Hà Nội và thành thị Hồ Chí Minh trong công tác quy hoạch, triển khai 1 số dự án giao thông nhằm giải quyết hiện trạng ùn tắc giao thông, chắc chắn nhu cầu di chuyển cho nhân dân.

– Đẩy mạnh thực hiện 1 số đột phá chiến lược theo tinh thần chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020 đã được Đảng đề ra. Tiếp tục triển khai Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn có chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực tranh giành GĐ 2013 – 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ở Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19/02/2013 và Đề án Tái cơ cấu ngành Giao thông vận tải phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – tân tiến hóa và phát triển bền vững GĐ 2011 – 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ở Quyết định số 1210/QĐ-TTg ngày 24/7/2014, có mục tiêu: Tái cơ cấu ngành Giao thông vận tải nhằm cung cấp nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, tân tiến hóa đất nước; tạo bước đột phá về kết cấu hạ tầng giao thông.

– Tiếp tục rà soát, điều chỉnh 1 số chiến lược, quy hoạch phát triển ngành chắc chắn tính khả thi, thích hợp có điều kiện thực ở. Hoàn thiện 1 số nguyên tắc, quy chuẩn, quy trình, quy phạm, định mức kinh tế – kỹ thuật.

– Tiếp tục đẩy mạnh lôi kéo mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, bao gồm cả nguồn lực trong và ngoài nước; đặc trưng chú trọng việc 1 số địa phương tham dự mạnh mẽ hơn vào việc huy động 1 số nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng giao thông. Tăng cường vai trò quản lý nhà nước, đổi mới thể chế chính sách bán hàng tạo khung pháp lý minh bạch, thông thoáng, cải 1 sốh thủ tục hành chính theo hướng tạo điều kiện, tháo gỡ 1 số gặp khó, rào cản, tạo động lực khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham dự đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông.

– Sử dụng nguồn lực hợp lý để đầu tư phát triển, ưu tiên 1 số công trình có tính lan tỏa, chắc chắn kết nối 1 số phương thức vận tải, 1 số trọng điểm kinh tế lớn. Tăng cường công tác bảo trì 1 số công trình hiện có để nâng cao năng lực thông qua.

– Phát triển phân khúc vận tải tranh giành lành mạnh, tạo nên cơ cấu hợp lý theo hướng giảm thị phần vận tải các con phố bộ, tăng thị phần vận tải các con phố sắt, các con phố biển và các con phố thủy nội địa, đặc trưng trên 1 số hành lang vận tải chính; nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm giá thành vận tải, cung cấp kịp thời, đầy đủ nhu cầu vận tải hàng hóa, hành khách, nâng cao sức tranh giành của nền kinh tế.

– Nâng cao hiệu quả, cải thiện năng lực sản xuất kinh doanh và sức tranh giành của 1 số công ty trong ngành thông qua việc củng cố phát triển 1 số công ty nắm giữ 1 số khâu then chốt, huyết mạch của ngành giao thông vận tải trong lĩnh vực hàng hải, các con phố sắt, hàng không, công nghiệp đâyng tàu.

– Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ tân tiến trong thi công phát triển và quản lý giao thông vận tải. Tăng cường nguồn nhân lực chất lượng cao, chú trọng nâng cao năng lực hoạch định chính sách bán hàng, dự đoán, giải đáp, tổ chức quản lý đầu tư phát triển và quản lý khai thác kết cấu hạ tầng giao thông và quản lý vận tải./.

PV/VOV.VN

Bạn đang xem chuyên mục Blog duanresidence.net của dự án The Residence 1 củ chi tọa lạc ở Võ Văn Bích, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, Tp.HCM

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*